Hồn Cốt Của Thăng Long Hà Nội Thông Qua Lăng Kính Tổ Nghề
Hà Nội ngàn năm văn hiến luôn được định hình và nhận diện rõ nét thông qua hai cấu trúc cốt lõi: “phố” và “phường”. Những tên gọi này từ lâu đã vượt ra khỏi khuôn khổ của những đơn vị hành chính đô thị để trở thành lăng kính soi chiếu sự thăng trầm lịch sử, biến thiên xã hội và hệ giá trị văn hóa của cộng đồng kinh kỳ. Điểm đặc biệt nhất trong tiến trình kiến tạo đô thị này chính là sự gắn kết máu thịt giữa “phường” trong vai trò tổ chức liên kết nghề nghiệp, còn “phố” là trục không gian buôn bán. Trải qua lớp bụi thời gian, dấu ấn rực rỡ của các phường nghề Thăng Long vẫn hiện diện và được lưu giữ cẩn thận bên trong những ngôi đình thờ tổ nghề ẩn mình giữa lòng khu phố cổ.
“Phố Phường”: Cội Nguồn Của Không Gian Đô Thị Cổ
Danh xưng “Hà Nội 36 phố phường” là một biểu tượng bất diệt của thủ đô. Sự hình thành kinh thành Thăng Long là sự hòa quyện hoàn hảo giữa “thành” (trung tâm chính trị, quân sự) và “thị” (trung tâm kinh tế, giao thương). Khái niệm “phường” xuất hiện nhằm đáp ứng những yêu cầu tất yếu về quy hoạch đô thị, bao hàm cả chức năng quản lý chính trị lẫn điều hành kinh tế.

Dưới góc nhìn lịch sử đô thị, GS. Trần Quốc Vượng và nhà nghiên cứu Vũ Tuấn Sán lý giải: Ngoài chợ tập trung, phố phường chính là khu vực dân sự chủ đạo. “Phường” không đơn thuần là tổ chức hội nhóm thợ thủ công, mà là đơn vị hành chính cấp cơ sở, có vai trò tương đương cấp “xã” ở nông thôn. Dựa trên nguyên tắc quy hoạch đô thị thời trung đại, chữ “phường” mang ý nghĩa gốc là một khu đất hình vuông, nơi quy tụ những người thợ có cùng kỹ năng nghề nghiệp và chung gốc gác làng quê.
Làm rõ hơn mối quan hệ mật thiết này, PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ nhấn mạnh: Nếu “phường” là khu vực mặt bằng (diện tích), thì “phố” đóng vai trò như một trục xương sống. Phố bao gồm một con đường lưu thông, hai bên là dãy nhà cửa. Những ngôi nhà này mang tính “kép”: vừa là xưởng chế tác thủ công, vừa là gian hàng trưng bày và bán thành phẩm đến tay người tiêu dùng.
Về mặt niên đại, thư tịch cổ cho thấy đơn vị hành chính “phường” tồn tại từ trước 1230. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận triều đình từng chia kinh thành làm 61 phường. Ngược lại, thuật ngữ “phố” xuất hiện muộn màng hơn. Trong văn bản thời Lý, Trần, Lê, tên các “phố” gần như vắng bóng. Mãi đến thế kỷ XIX dưới triều Nguyễn, từ “phố” với ý nghĩa trung tâm kinh tế mới chính thức xác lập, ban đầu chỉ bến bãi dọc bờ sông, sau mở rộng chỉ các dãy cửa hàng sầm uất.
Huyền Thoại Về Con Số “36 Phố Phường” Và Dấu Ấn Phường Nghề Chữ “Hàng”
Nguồn gốc con số 36 mang tính biểu tượng có thể xuất phát từ quyết định quy hoạch an ninh dưới thời vua Lê Hiển Tông (ở ngôi 1740-1786, niên hiệu Cảnh Hưng) khi chia kinh thành thành 36 khu vực để đảm bảo an ninh. Sách Đại Nam nhất thống chí cũng nhắc đến việc Hà Nội xưa có 36 phường phố. Trong sách đã ghi: “Hà Nội là kinh đô xưa nguyên trước có 36 phường phố, nay ở quanh phía Đông Nam tỉnh thành gồm 21 phố, nhà ngói như bát úp, tụ họp các mặt hàng nhân vật cũng phồn thịnh”.

Tuy nhiên, điều khiến con số 36 khắc sâu vào văn hóa đại chúng lại đến từ các tác phẩm văn học nghệ thuật, khởi nguồn từ câu ca dao “Rủ nhau chơi khắp Long Thành/ Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai”, cho đến tản văn kinh điển Hà Nội ba mươi sáu phố phường của nhà văn Thạch Lam. Thông qua đó, cụm từ này đã trở thành một định danh bất hủ gọi tên khu vực lõi thủ đô.
Bên cạnh yếu tố hành chính, từ “phường” trong văn hóa Kẻ Chợ còn đồng nghĩa với cộng đồng chung sinh kế, sinh ra khái niệm “phường nghề”. Tại phố cổ, các con phố đặc trưng phường nghề được nhận diện qua cấu trúc tên gọi bắt đầu bằng chữ “Hàng” đi kèm tên sản phẩm (Hàng Bạc, Hàng Mã…). Sự thật là số lượng phố chữ “Hàng” ở Thăng Long lớn hơn 36 rất nhiều, thống kê nay vẫn ghi nhận hơn 60 con phố.
Về địa lý, các phố “Hàng” tọa lạc ở phía Đông thành phố, dễ dàng tiếp cận giao thông thủy, thuận lợi cho giao thương. Đặc điểm thú vị nhất của phường nghề Thăng Long là nguồn gốc di dân. Phần lớn thợ thủ công là di dân từ các miền quê đổ về lập nghiệp từ thế kỷ XVII – XVIII. Phương thức di dân mang tính tập thể: cả thôn xóm đi theo họ hàng hoặc bám theo tổ nghề. Khi đến Thăng Long, họ tiếp tục sống quần tụ, tạo nên sự chuyên môn hóa cao độ: một con phố chỉ chuyên sản xuất và bày bán một loại mặt hàng. Tập quán cư trú mang tính hương đảng này tạo nên bản sắc sinh kế đặc thù, góp phần đưa khu phố cổ trở thành di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.
Đình Thờ Tổ Nghề Phố Cổ: Những Bản Đồ Sống Của Di Sản Thủ Công
Khu phố cổ Hà Nội từng sở hữu hệ thống tín ngưỡng dày đặc với khoảng 60 ngôi đình, nay còn khoảng 20 ngôi bảo lưu được hình dáng tương đối nguyên vẹn. Dưới đây là những minh chứng tiêu biểu cho đời sống tâm linh và văn hóa nghề nghiệp:
- Đình Kim Ngân (42-44 Hàng Bạc): Chứng nhân gắn liền với nghề chế tác kim hoàn. Đình có kiến trúc hai tầng. Tầng một thờ Lưu Xuân Tín – Thượng thư Bộ Lại thời Lê Thánh Tông, người xin lập xưởng đúc bạc và đưa thợ từ Châu Khê (Hải Dương) lên kinh thành. Tầng hai thờ Hiên Viên Hoàng Đế – tổ bách nghệ. Sự có mặt của vị thần này xuất phát từ việc phố Hàng Bạc sau đón thêm thợ từ Định Công, Đồng Xâm đến lập nghiệp nên quyết định phối thờ chung để gắn kết. Đình lưu giữ nhiều mảng chạm khắc gỗ tinh xảo, được xếp hạng Di tích Quốc gia năm 2012.

- Đình Lò Rèn: Nằm trên con phố cùng tên, ngôi đình là dấu ấn của thợ rèn từ làng Hòe Thị (Từ Liêm) di cư đến. Ban đầu, khu vực tập trung sản xuất nông cụ nên gọi là phố Hàng Bừa. Sau, khi nhóm thợ rèn từ Nam Định, Thanh Hóa đổ về, các bễ lò rực lửa biến nơi này thành phố Lò Rèn sầm uất. Các nhóm thợ lập đình thờ vị tổ nghề của mình. Di tích được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa năm 2000.
- Đình Đồng Lạc (38 Hàng Đào): Tọa lạc trên con phố thương mại đắt giá, đình thờ tổ nghề may yếm lụa Nguyễn Thị Diệu Quyên. Tương truyền, bà có công truyền dạy kỹ thuật may yếm thời Lê, được dân suy tôn là Quyến yếm thị tiên sư và phối thờ cùng ba vị thành hoàng (Cao Sơn, Linh Lang, Bạch Mã). Điểm độc đáo là kiến trúc “đình chợ” – kết hợp giữa không gian tâm linh và trần tục: tầng một kinh doanh tơ lụa, tầng hai để tế lễ. Đình được xếp hạng Di tích cấp Quốc gia năm 2004.
- Đình Phúc Hậu (2 Hàng Bông): Gắn liền với nghề làm và tráng gương. Đình thờ thần Phúc Hậu (Trần Nhuận Đình), vị quan thời Trần từng đi sứ phương Bắc, học bí quyết chế tác tráng gương mang về truyền bá cho dân thôn Kim Cổ, tạo sinh kế cho khu vực rộng lớn.
Qua lăng kính những ngôi đình thờ tổ nghề, hình ảnh Hà Nội 36 phố phường hiện lên không chỉ là những khối kiến trúc tĩnh lặng, mà là thực thể sống động mang lớp lớp trầm tích văn hóa. Những ngôi đình ấy là sợi dây vô hình kết nối quá khứ và hiện tại, giữ gìn ngọn lửa tri ân và tinh thần đoàn kết của những phường thợ thủ công tài hoa đã xây đắp nên Kẻ Chợ phồn hoa. Nơi đó, “phố” và “phường” sẽ mãi là linh hồn, là nhịp đập trái tim của đô thị ngàn năm văn hiến.
-