Tin tức Thương hiệu Đời sống Ăn gì Du lịch Giải trí

Sáu thập niên vun đắp diện mạo văn học nghệ thuật Thủ đô

Khởi đầu từ Chi hội Văn nghệ Hà Nội với khoảng 200 hội viên vào tháng 10/1966, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội đã trải qua 60 năm xây dựng và phát triển, trở thành mái nhà chung của hơn 4.500 văn nghệ sĩ thuộc 9 hội chuyên ngành. Hành trình ấy không chỉ ghi dấu sự lớn mạnh về tổ chức mà còn phản ánh những đóng góp bền bỉ của các thế hệ sáng tạo trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa, phản ánh đời sống xã hội và làm giàu thêm giá trị tinh thần của Thủ đô.

Từ những nền móng ban đầu

Sau khi Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Hà Nội vào tháng 2/1947, thành phố bước vào thời kỳ tạm chiếm với nhiều khó khăn đối với hoạt động văn hóa, văn nghệ. Tuy nhiên, từ khoảng năm 1950, khi ngày càng nhiều văn nghệ sĩ trở về, đời sống báo chí và văn chương dần xuất hiện những chuyển biến tích cực. Một bộ phận người làm báo đồng thời tham gia sáng tác, trong khi các ấn phẩm báo chí bắt đầu dành không gian giới thiệu thơ, truyện và những sáng tác mới, tạo điều kiện cho các cây bút trẻ thử sức.

Sau ngày Thủ đô được tiếp quản năm 1954, các hoạt động văn hóa, văn nghệ từng bước được khôi phục. Những đoàn nghệ thuật sân khấu, cơ sở đào tạo âm nhạc, hội họa được củng cố; phong trào văn nghệ quần chúng cũng lan rộng tại nhiều địa bàn. Trong giai đoạn 1954–1966, trước khi Hội Văn nghệ Hà Nội ra đời, Sở Văn hóa Hà Nội giữ vai trò nòng cốt trong việc tổ chức, vận động phong trào, đồng thời nhận được sự hỗ trợ từ các cơ quan văn nghệ Trung ương.

Từ những hoạt động này, lực lượng sáng tác của Hà Nội từng bước được tập hợp và phát triển. Sở Văn hóa thành lập Câu lạc bộ Sáng tác trẻ với khoảng 50–60 cộng tác viên, đồng thời phát hành các ấn phẩm như Tiếng máy, Tiếng hát quê ta, Đường phố mới. Với hình thức nhỏ gọn, mỗi số từ 4 đến 8 trang và được gửi miễn phí tới các cơ sở, những ấn phẩm này giới thiệu ca dao, thơ, chuyện vui và phản ánh sinh động cuộc sống của người dân nội, ngoại thành.

Bên cạnh đó, nhiều tuyển tập văn học cũng được biên soạn, xuất bản, trong đó có hai tập truyện ngắn Mưa đêm, Ven sông Tô, ba tập Người Hà Nội và một số tập Hồi ký Hà Nội với sự tham gia tập hợp, biên tập bản thảo của Hoàng Cầm, Lê Bầu, Nguyễn Dậu. Những nỗ lực này góp phần tạo dựng môi trường sáng tác, phát hiện các cây bút mới và thúc đẩy nhu cầu hình thành một tổ chức nghề nghiệp đủ khả năng quy tụ, định hướng hoạt động văn học nghệ thuật về Thủ đô.

Tháng 10/1966, Chi hội Văn nghệ Hà Nội chính thức thành lập, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quá trình tổ chức lực lượng sáng tạo của thành phố. Khi mới ra đời, Chi hội có khoảng 200 hội viên, trong đó gần hai phần ba là những người sáng tác không chuyên, số còn lại là các văn nghệ sĩ chuyên nghiệp đang hoạt động tại Trung ương và Hà Nội. Dựa trên lực lượng nòng cốt của Sở Văn hóa cùng sự hỗ trợ của giới văn nghệ sĩ Trung ương, Chi hội từng bước kiện toàn tổ chức và xây dựng các bộ phận chuyên môn.

Theo hồi ức của nhà văn Hoàng Quốc Hải, khi Chi hội đi vào hoạt động, một số cán bộ, cây bút thuộc lực lượng sáng tác của Sở Văn hóa Hà Nội được chuyển về làm việc trực tiếp tại đây, trong đó có Chu Hà, Lê Bầu, Huỳnh Tâm Chí… Để nâng cao chất lượng chuyên môn và tạo định hướng cho phong trào, Chi hội còn mời nhiều nhà văn uy tín của Trung ương tham gia Ban Chấp hành như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Kim Lân, Nguyễn Xuân Sanh, Anh Thơ, Hồ Phương, Nguyễn Kiên, Bùi Hạnh Cẩn, Bùi Huy Phồn, Huyền Kiêu, Bích Thuận, Mộng Sơn… Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh đảm nhiệm cương vị Tổng thư ký đầu tiên. Sự góp mặt của nhiều tên tuổi trong các lĩnh vực văn chương, hội họa, sân khấu, mỹ thuật và âm nhạc đã tạo nền tảng quan trọng cho hoạt động của tổ chức trong những năm tiếp theo.

Sáu mươi năm bồi đắp giá trị và khẳng định vị thế

Ngay từ giai đoạn đầu, Chi hội Văn nghệ Hà Nội đã chú trọng phát triển đồng thời hoạt động sáng tác, xuất bản và đào tạo lực lượng kế cận. Tập Sáng tác Hà Nội – tiền thân của tạp chí Người Hà Nội – ban đầu được phát hành mỗi quý một số, sau đó tăng tần suất lên hai tháng một số. Ấn phẩm dần trở thành diễn đàn giới thiệu tác phẩm và kết nối những người sáng tác của Thủ đô.

Công tác bồi dưỡng chuyên môn cũng được triển khai thường xuyên. Trong khoảng một thập niên sau ngày thành lập, hầu như năm nào Chi hội cũng tổ chức các lớp nghiệp vụ và trại sáng tác kéo dài từ một đến hai tháng. Thành phần tham gia khá đa dạng, từ văn nghệ sĩ chuyên nghiệp đến công nhân, cán bộ kỹ thuật, giáo viên và những người yêu văn chương. Nhờ vậy, vào khoảng những năm 1970–1972, lực lượng sáng tác trẻ tại Hà Nội ngày càng phát triển về số lượng.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội, các trại bồi dưỡng sáng tác được tổ chức hằng năm đã góp phần khơi dậy khả năng sáng tạo trong nhiều tầng lớp nhân dân, từ công nhân, nông dân đến sinh viên và trí thức. Nhiều gương mặt từng trưởng thành từ môi trường này, như đạo diễn Đoàn Trúc Quỳnh, nhà biên kịch Lưu Nghiệp Quỳnh, các nhà văn Tùng Điển, Đỗ Bảo Châu, Nguyễn Thị Vân Anh, Trần Hoàng Bách, Nguyên Anh, Lê Minh Khuê, Tô Hải Vân, Trần Văn Mỹ…

Các tác phẩm truyện ngắn, truyện vừa, bút ký và ký sự của nhiều tác giả được đăng tải thường xuyên trên tập sáng tác Người Hà Nội. Một số sáng tác còn được tập hợp, xuất bản thành sách, tiêu biểu như Truyện ký Hà Nội (Hội Văn nghệ Hà Nội, 1971), Hà Nội 12 ngày đêm ấy (Nhà xuất bản Văn học, 1973) và Điều chưa nghĩ tới (Nhà xuất bản Tác phẩm mới, 1977) – tuyển tập truyện ngắn của 13 hội viên viết về đề tài công nghiệp Hà Nội. Những ấn phẩm này vừa phản ánh đời sống xã hội trong từng giai đoạn, vừa góp phần hình thành thế hệ tác giả mới, bổ sung nguồn lực cho hoạt động xuất bản của Chi hội.

Không chỉ tập trung vào sáng tác văn học, tổ chức còn đẩy mạnh nghiên cứu, sưu tầm văn hóa dân gian, thu hút sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu và trí thức như Bùi Văn Nguyên, Vũ Tuân Sán, Trần Quốc Vượng… Những công trình như Danh nhân Hà Nội, Truyền thuyết ven hồ Tây, Ca dao ngạn ngữ Hà Nội, Hát cửa đình Lỗ Khê đã góp phần lưu giữ, hệ thống hóa và giới thiệu những giá trị văn hóa đặc sắc của vùng đất Thăng Long – Hà Nội.

Đánh giá về giai đoạn đầu hình thành tổ chức, nhà văn Tô Hoài, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội, từng nhấn mạnh rằng sự ra đời của Chi hội đã tạo động lực để các hoạt động văn học nghệ thuật phát triển trên nhiều phương diện. Hội thảo chuyên môn, lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, câu lạc bộ sáng tác, xuất bản, triển lãm và biểu diễn sân khấu lần lượt được tổ chức. Những đề tài nghiên cứu văn nghệ cấp thành phố được công nhận cùng các giải thưởng mà hội viên đạt được ở cấp liên hiệp Trung ương cho thấy sự trưởng thành của lực lượng sáng tạo Thủ đô. Những nhận định này được đề cập trong công trình Những thành tựu văn học nghệ thuật Hà Nội và định hướng phát triển tới năm 2010 (Nhà xuất bản Hà Nội, 1996).

Qua thời gian, Hội từng bước khẳng định vai trò là tổ chức quy tụ văn nghệ sĩ, đồng thời tạo môi trường để nuôi dưỡng tài năng, nâng cao trình độ nghề nghiệp và thúc đẩy sáng tác. Từ một lực lượng còn khiêm tốn, đội ngũ văn nghệ sĩ Hà Nội ngày càng phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng, để lại nhiều tác phẩm và công trình nghiên cứu có giá trị về văn hóa, con người và đời sống đô thị.

Một dấu mốc quan trọng diễn ra tại Đại hội lần thứ VII vào tháng 12/1990, khi Hội Văn nghệ Hà Nội được chuyển đổi thành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội. Các phân hội được tổ chức lại thành những hội chuyên ngành, mở rộng khả năng tập hợp lực lượng sáng tạo trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật.

Từ khoảng 200 hội viên ban đầu, đến nay Hội đã phát triển thành tổ chức quy tụ hơn 4.500 văn nghệ sĩ, hoạt động trong 9 hội chuyên ngành gồm: Hội Nhà văn, Hội Mỹ thuật, Hội Nhiếp ảnh, Hội Điện ảnh, Hội Sân khấu, Hội Âm nhạc, Hội Nghệ sĩ Múa, Hội Kiến trúc sư và Hội Văn nghệ dân gian.

Quá trình mở rộng về tổ chức gắn liền với sự trưởng thành của nhiều thế hệ văn nghệ sĩ. Trong đội ngũ hội viên có những tên tuổi lớn của nền văn học nghệ thuật Việt Nam, nhiều người được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật. Không ít hội viên thuộc các hội chuyên ngành của Hà Nội đồng thời tham gia các tổ chức chuyên ngành ở cấp Trung ương, qua đó tăng cường sự giao lưu, kết nối và đóng góp của văn nghệ sĩ Thủ đô vào đời sống nghệ thuật cả nước.

Theo nhà thơ Bằng Việt, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội, thành tựu của văn học nghệ thuật Thủ đô được thể hiện rõ qua nhiều giai đoạn lịch sử quan trọng. Đó là những năm đầu sau ngày giải phóng Thủ đô 1954–1955, thời điểm mở đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ 1965–1967, chiến thắng B.52 trong trận “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972, thời kỳ thống nhất đất nước 1975–1976 và đặc biệt là công cuộc Đổi mới bắt đầu từ năm 1986. Ở mỗi chặng đường, sáng tác nghệ thuật đều mang dấu ấn của thời đại, phản ánh những chuyển động của xã hội và tâm tư của con người.

Dấu ấn của đội ngũ văn nghệ sĩ được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, từ văn học, âm nhạc, mỹ thuật, nhiếp ảnh đến sân khấu, múa, điện ảnh, kiến trúc và văn nghệ dân gian. Mỗi loại hình đều có những tác giả, tác phẩm góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của người dân, đồng thời lan tỏa hình ảnh Hà Nội và văn hóa Việt Nam đến đông đảo công chúng.

Đáng chú ý, các sáng tác không chỉ ghi lại diện mạo thành phố ở từng thời điểm mà còn lưu giữ ký ức đô thị, phản ánh những biến đổi trong đời sống xã hội và gợi mở các vấn đề của con người đương đại. Sự phong phú về đề tài, phong cách và phương thức biểu đạt cho thấy khả năng thích ứng, sức sống của văn học nghệ thuật Hà Nội, cũng như vai trò của lĩnh vực này trong việc bồi đắp bản sắc văn hóa và xây dựng đời sống tinh thần của cộng đồng.

Đằng sau những kết quả đạt được là sự đóng góp của nhiều thế hệ văn nghệ sĩ với tinh thần gắn bó, ý thức rèn luyện nghề nghiệp và trách nhiệm đối với xã hội. Bên cạnh lớp nghệ sĩ giàu kinh nghiệm, những người sáng tác trẻ đang tiếp tục tìm kiếm hướng đi mới, đổi mới cách thể hiện và phát huy các giá trị chân – thiện – mỹ, đồng thời mở rộng giao lưu, hội nhập với đời sống nghệ thuật đương đại.

Hướng tới giai đoạn phát triển mới

Bước vào chặng đường tiếp theo, văn học nghệ thuật Hà Nội đứng trước nhiều điều kiện thuận lợi để mở rộng không gian sáng tạo và tăng cường gắn kết với đời sống thành phố. Việc Hà Nội tham gia Mạng lưới các Thành phố sáng tạo của UNESCO tạo thêm cơ hội thúc đẩy các ngành sáng tạo, đồng thời đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với văn nghệ sĩ trong việc tạo ra những tác phẩm có chất lượng nghệ thuật, sức lan tỏa cộng đồng và khả năng quảng bá hình ảnh Thủ đô.

Cùng với đó, chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa mở ra nhiều hướng hoạt động mới gắn với điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, nhiếp ảnh, mỹ thuật, triển lãm và các ngành nghề thủ công truyền thống. Đây là cơ hội để nghệ sĩ khai thác thêm nguồn lực, mở rộng đối tượng công chúng và đưa tác phẩm đến gần hơn với đời sống. Tuy nhiên, những chuyển động này cũng đòi hỏi sự đổi mới trong phương thức hoạt động, tăng cường hợp tác giữa người sáng tạo với các thiết chế văn hóa và cộng đồng xã hội.

Theo Nghệ sĩ Nhân dân Trần Quốc Chiêm, để tiếp tục đồng hành với quá trình phát triển của Hà Nội, văn học nghệ thuật cần chủ động đổi mới, bám sát thực tiễn đời sống và kịp thời phản ánh những chuyển biến của thành phố. Hoạt động sáng tác cần chú trọng phát hiện, cổ vũ những nhân tố tích cực, những mô hình và thành tựu mới; đồng thời đẩy mạnh tính chuyên nghiệp nhằm đóng góp thiết thực hơn cho sự nghiệp phát triển Thủ đô và đất nước.

Nhìn lại hành trình 60 năm, bên cạnh những thành tựu nổi bật, lĩnh vực văn học nghệ thuật Hà Nội vẫn còn không ít vấn đề cần giải quyết. Công tác quản lý nhà nước còn những điểm chưa phù hợp; cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hoạt động. Lực lượng kế cận chưa thật sự dồi dào, trong khi nguồn lực đầu tư còn hạn chế so với yêu cầu phát triển của Hà Nội – một trung tâm văn hóa lớn của cả nước.

Thực tế đó đặt ra yêu cầu phải xây dựng những điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động sáng tạo, từ hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường đầu tư đến phát triển đội ngũ và mở rộng khả năng tiếp cận tác phẩm của công chúng. Việc phát triển văn học nghệ thuật trong giai đoạn mới vì thế không chỉ dừng ở củng cố tổ chức, mà còn cần tạo dựng môi trường sáng tạo bền vững, thúc đẩy sự tương tác giữa nghệ sĩ, cộng đồng và các nguồn lực xã hội.

Theo định hướng phát triển đến năm 2031, tầm nhìn năm 2045, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội xác định tiếp tục đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo và chỉ đạo; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức Đảng và người đứng đầu đối với hoạt động văn học nghệ thuật. Cùng với đó là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, quan tâm bố trí nguồn lực và thúc đẩy nghiên cứu lý luận, phê bình.

Hội cũng hướng tới việc phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, tham mưu trong lĩnh vực văn học nghệ thuật; rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách; kiện toàn tổ chức theo hướng thống nhất, tinh gọn, chuyên nghiệp và hiệu quả. Hoạt động tuyên truyền, quảng bá tác phẩm, giao lưu và hợp tác quốc tế sẽ tiếp tục được chú trọng, nhằm vừa bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, vừa tăng cường khả năng hội nhập của văn nghệ sĩ Thủ đô.

Sáu thập niên xây dựng và phát triển đã tạo nên nền tảng quan trọng để Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội bước vào giai đoạn mới. Những yêu cầu đặt ra hôm nay đòi hỏi đội ngũ văn nghệ sĩ không ngừng nâng cao năng lực sáng tạo, giữ vững trách nhiệm nghề nghiệp và chủ động thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của đời sống đô thị.

Trên cơ sở những giá trị đã được nhiều thế hệ gây dựng, văn học nghệ thuật Hà Nội được kỳ vọng sẽ tiếp tục có thêm những tác phẩm giàu chiều sâu tư tưởng, có chất lượng nghệ thuật và sức lan tỏa xã hội. Qua đó, lĩnh vực này không chỉ góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của người dân mà còn tiếp tục gìn giữ bản sắc văn hóa, khơi dậy nguồn lực sáng tạo và đồng hành cùng Hà Nội trên hành trình phát triển trong thời kỳ mới.

Chọn ngôn ngữ

You are accessing the website in Vietnamese language!
(Bạn đang truy cập website bằng ngôn ngữ Tiếng Việt!)

Select another language if you want to switch to
(Chọn ngôn ngữ khác nếu bạn muốn chuyển sang)